Người đưa diều sáo đến… trời Tây

 Sinh và lớn lên tại Hà Nội, tuổi thơ của nghệ nhân Quan Hằng Cao gắn với cánh diều, với tiếng sáo ngân nga trên triền đê sông Hồng lộng gió những chiều hè. 

 Nét văn hoá dân gian đặc sắc

Theo nghệ nhân Quan Hằng Cao, Chủ nhiệm CLB Diều Hà Nội, trên thế giới, nhiều nước đã khôi phục lại diều truyền thống, mỗi nước đều có nét văn hóa riêng, độc đáo nhưng chỉ ở Việt Nam người xem mới vừa có thể cùng lúc nhìn ngắm được cánh diều cong vút như mảnh trăng khuyết in trên nền trời xanh và thưởng thức tiếng sáo ngân nga, du dương, bổng trầm. Không quá giản đơn như diều Nam Bộ hay cầu kỳ, đa dạng, đậm dấu ấn cung đình như diều Huế, diều sáo Bắc Bộ là sự kết hợp tinh tế giữa hình dáng đơn sơ của cánh diều và tiếng sáo vi vút trên không trung. Cánh diều biểu tượng cho những ước mơ, khát vọng ngàn đời của cư dân lúa nước đồng bằng Bắc Bộ, muốn được bay cao hơn, xa hơn, chở tình yêu quê hương, xóm làng và cầu mong cho những mùa vàng bội thu. Diều và sáo được làm nên bởi những nguyên liệu thân thuộc, sẵn có ở hầu hết các làng quê. Ngày xưa, các cụ làm diều sáo hầu hết đều bằng tre. Từ thân diều đến sáo diều, lồng cuộn dây và chính dây diều cũng làm bằng tre. Để có một con diều tốt, một bộ sáo hay cũng mất nhiều công phu và sự tận tâm.

Mỗi làng quê đều có những câu chuyện, những truyền thuyết thú vị, đầy tính nhân văn gắn với thú chơi diều sáo lúc nông nhàn. Ví như ở làng Bá Dương Nội, Đan Phượng, Hà Nội, một trong những nơi được cho là khởi nguồn của diều sáo truyền thống, cánh diều được gắn với câu chuyện cảm động giữa người với tiên. Người cao tuổi trong làng kể rằng, xưa kia khi trời, đất giao hoà, con người và thần tiên luôn quấn quýt bên nhau. Bỗng một ngày thảm hoạ ập đến, thế gian tăm tối, trời và đất bị chia cắt. Bầu trời thì cứ cao dần lên, tách xa khỏi mặt đất. Thần tiên và con người không làm cách nào gặp được nhau gây nên bao nỗi niềm thương nhớ. Cánh diều đã ra đời, nối sợi dây tình cảm giữa bầu trời và mặt đất, mang theo tiếng sáo du dương bày tỏ tấm lòng của người dưới hạ giới với người cõi tiên. Có những nơi lại quan niệm rằng, chơi diều sáo là gieo phúc lành cho cuộc sống. Bởi theo truyền thuyết, những cô tiên thường rắc xuống trần gian những hạt trấu, hạt đậu khiến trẻ em mắc bệnh đậu mùa, bệnh sởi. Tiếng sáo diều sẽ khiến các cô mải nghe mà quên mất công việc của mình.

 Ảnh minh họa

Nghệ nhân Quan Hằng Cao (thứ hai từ phải sang)

 

Đưa diều sáo đến… trời Tây

Có “thâm niên” nhiều năm chơi diều, là thành viên Hiệp hội Diều thế giới và Hiệp hội Diều Đông Nam Á, mê diều sáo, hiểu được giá trị văn hóa ẩn sâu trong nó nghệ nhân Quan Hằng Cao, luôn trăn trở làm thế nào để đưa sáo diều của nước ta ra nước ngoài, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Nhưng diều sáo truyền thống làm bằng tre, có những con diều dài 4 - 5 mét, không gấp lại được thì làm sao có thể vận chuyển, đưa lên máy bay được. Sau một thời gian dài tìm hiểu các loại diều trên thế giới rồi mầy mò, nghiên cứu, tháo lắp, thậm chí làm hỏng hàng chục con diều, ông Cao đã tìm ra phương pháp tháo, cắt rời từng bộ phận của xương diều và lắp ghép lại hoàn chỉnh con diều chỉ trong vài phút. Xương diều được cố định bằng vải định hình, một loại vải siêu mỏng, nhẹ, bền, không co giãn được thế giới sản xuất chuyên cho diều, mà không cần đến các dây buộc.

Giải quyết xong khó khăn về vận chuyển, năm 2004, chiếc diều gắn sáo lắp ghép đầu tiên, cất gọn được trong chiếc túi dụng cụ đánh gôn, được trang trí bảy sắc cầu vồng, đã theo ông Cao sang tham dự lễ hội diều tại Pháp. Tiếng sáo diều ngân nga, vang xa khiến bè bạn thế giới kinh ngạc. Không chỉ người tham dự lễ hội trên bãi biển mà cả những người dân Pháp trong các tòa nhà gần đó đều ngóng ra cửa sổ, hay đứng ra ngoài ban công để ngắm, để nghe tiếng sáo. Sự hấp dẫn của diều sáo với người Pháp quả là một thành công lớn khiến ông Cao rất đỗi tự hào. Từ đó, người ta bắt đầu nhắc đến diều sáo Việt Nam trong mỗi lễ hội diều được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới. Người nước ngoài đã đến nghiên cứu, viết sách về diều sáo Việt Nam. Các chuyên gia về âm thanh thì đánh giá rằng, sáo diều là thứ âm thanh mang tính tự nhiên khiến người nghe có thể nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần tốt nhất.

Trở về Việt Nam, ông Cao lặn lội đến các vùng quê, tìm đến những làng nghề làm diều, những nghệ nhân làm diều sáo để truyền bá cách làm diều lắp ghép. Ông bảo, muốn hòa nhập với thế giới thì diều phải đẹp về hình thức, đa dạng màu sắc. Diều truyền thống của các cụ xưa chỉ làm bằng thứ giấy bồi, phết quả cậy hay bằng giấy báo, giấy xi măng… Trong khi đó, trên thế giới các hội thi diều đều đòi hỏi sự sáng tạo, khéo léo. Diều của họ đã đạt đến trình độ kỹ thuật rất cao. Chất liệu sử dụng làm diều đều được sản xuất chuyên dụng: nhẹ, mỏng, đẹp và siêu bền… Vì vậy, chúng ta muốn hội nhập văn hóa, phát triển, bảo tồn văn hóa truyền thống thì không thể cứ rập khuôn với cách làm cũ. “Nói như thế nhưng làm thế nào để bộc lộ được bản sắc văn hóa Việt cũng là một vấn đề cần phải suy nghĩ. Theo tôi, ngoài kiểu dáng diều truyền thống (hình lá chanh, lá muỗm, con thuyền) và bộ sáo độc đáo ta cần có hình thức trang trí phù hợp. Như chiếc diều sáo được may trang trí bức tranh dân gian Đông Hồ “Đám cưới chuột”, chiếc diều hình chú Tễu mang cờ hội vừa tham gia festival diều thế giới được tổ chức ở miền Bắc nước Pháp được đánh giá rất cao”, ông Cao chia sẻ.

Tuy nhiên, các làng nghề diều sáo truyền thống hiện nay vẫn hoạt động theo kiểu mạnh ai nấy làm. Theo ông Cao, cần phải có một tổ chức đứng ra tập hợp họ lại, từ đó mới có chiến lược, chính sách bảo tồn, phát huy một cách bài bản. Ngoài ra, diều sáo là nét văn hóa độc đáo của Việt Nam, song tài liệu về nó chưa nhiều. Hiện chỉ có cuốn sách viết bằng tiếng Anh, của hai nhà nghiên cứu, đồng tác giả người Anh và người Đức. Ông Cao và các thành viên CLB Diều Hà Nội mong muốn, trong thời gian tới sẽ xây dựng được một bản đồ về diều trên toàn quốc, phục vụ cho việc nghiên cứu, bảo tồn và thực hiện cuốn sách về văn hóa diều của Việt Nam.

Hiền Thu

Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 37+38 (tháng 1+2/2013)



<<< Quay lại
VỀ ĐẦU TRANG